1. Trần Anh Tú

    Trần Anh Tú 0_o

    Tham gia ngày:
    20/12/15
    Bài viết:
    557
    Điểm thành tích:
    43
    Giới tính:
    Nam
    ĐẠI CƯƠNG CÁC BÀI THUỐC TRỪ ĐÀM

    Đàm là sản vật bệnh lý của tân dịch.

    Đàm gặp trong nhiều trạng thái bệnh lý khác nhau: thường gặp trong bệnh lý bộ máy hô hấp do chất xuất tiết của niêm mạc đường hô hấp như ho suyễn có đàm, ngực đầy tức khó thở, nôn, buồn nôn, đau đầu chóng mặt, bệnh tràng nhạc (loa lịch hạch đàm) và đàm cũng là bệnh lý của các chứng trúng phong, kinh giản, kinh quyết.

    Nguyên nhân sinh đàm có thể do nội thương tạng phủ, tạng phủ chức năng rối loạn (chủ yếu là ba tạng tỳ, phế, thận) và cũng có thể do ngoại cảm lục dâm (phong, hàn, thấp, táo, hỏa) cho nên tính chất đàm có khác nhau: thấp đàm, táo đàm, nhiệt đàm, hàn đàm, phong đàm.

    Bài thuốc trừ đàm gồm chủ yếu là những vị thuốc trừ đàm, tiêu đàm tạo thành. Phạm vi gây bệnh của đàm rất rộng, biến hóa của bệnh phức tạp, do nhiều nguyên nhân nội thương hoặc ngoại cảm sinh ra.

    Vì vậy, các bài thuốc trừ đàm được chia làm 5 loại: táo thấp hóa đàm, nhuận táo hóa đàm, thanh nhiệt hóa đàm, trừ hàn hóa đàm, trừ phong hóa đàm.

    Khi dùng các
    Bài thuốc trừ đàm phải chú ý: khi ho và đàm có thiên hướng ra máu thì không nên dùng các bài thuốc ôn táo trừ đàm. Khi ho và đàm do ngoại cảm thì phải phối hợp thuốc tuyên phế giải biểu với thuốc trừ đàm.

    I - CÁC BÀI THUỐC TÁO THẤP HÓA ĐÀM
    Do tỳ dương không mạnh, vận hóa thất thường, thủy thấp đình lại, tích tụ thành đàm, xuất hiện với các chứng: đàm trắng dễ khạc, lợm giọng, ngực tức, chân tay và ngưới mỏi mệt, chóng mặt hồi hộp, rêu lưỡi trắng trơn dính, mạch hoãn hay huyền.
    Các bài thuốc gồm có :

    - NHỊ TRẦN THANG
    - BÀI THUỐC NAM CHỮA HO TRỪ ĐÀM

    II - CÁC BÀI THUỐC TRỪ HÀN HÓA ĐÀM
    Hàn đàm do tỳ thận dương hư, phế hàn giữ nước. Trên lâm sàng thấy các chứng xuất hiện ho ra đờm lỏng, ngực đầy tức, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trơn, mạch trầm trì.
    Các bài thuốc gồm có :

    - KHU HÀN HÓA ĐÀM TÁN
    - LÃNH HÁO HOÀN

    III - CÁC BÀI THUỐC NHUẬN TÁO HÓA ĐÀM
    Bài thuốc Nhuận táo là những bài thuốc chữa chứng do bên ngoài táo khí gây nên hoặc bên trong âm hư nội nhiệt, sinh chứng khô táo, do chứng táo có nội táo và ngoại táo nên những bài thuốc chia ra hai loại chữa chứng Nội táo và Ngoại táo.

    Táo khí dễ hóa nhiệt, chứng nhiệt lại dễ làm tổn thương tân dịch nên trong những bài thuốc nhuận táo cần phối hợp các vị thuốc ngọt, hàn thanh nhiệt dưỡng âm, vì thế những bài thuốc nhuận táo dễ ảnh hưởng đến chức năng vận hóa của tỳ vị cho nên không nên dùng đối với chứng đàm thấp ngưng trệ ở trung tiêu hoặc tỳ vị hư hàn rối loạn tiêu hóa.
    A. CHỮA CHỨNG NGOẠI TÁO
    Là những bài thuốc chữa chứng ngoại cảm do lương táo hoặc do ôn táo gây nên, bệnh do:

    • Lương táo gây nên thường vào mùa thu cảm lạnh, phế khí không tuyên, thông thường thấy các triệu chứng ho, tắc mũi, đau đầu, sợ lạnh, ngực sườn đau tức, môi họng khô, rêu lưỡi trắng mỏng. Thường dùng các vị thuốc: Hạnh nhân, Tô diệp, Cát cánh, Tiền hồ, Đạm đậu xị, Thông bạch. Bài thuốc tiêu biểu là Hạnh tô tán.
    • Ôn táo thường gặp hơn do mùa thu khí hậu khô ráo ít mưa, con người dễ cảm ôn táo, làm tổn thương tân dịch của phế, thường gặp các chứng đau đầu, ho khan, ít đờm suyễn tức khó thở, mồm khát, lưỡi khô . Phép trị thanh nhuận phế táo thường dùng các vị thuốc: Tang diệp, Sa sâm để dưỡng âm thanh nhiệt.
    • Bài thuốc thường dùng có :
    - TANG HẠNH THANG
    - THANH TÁO CỨU PHẾ THANG
    B. CHỮA CHỨNG NỘI TÁO
    Nội táo có thể do tạng phủ tân dịch không đầy đủ hoặc do cảm phải ôn tà làm tổn thương tân dịch gây nên.

    • Nếu gây tổn thương ở phần trên ( phế) xuất hiện các chứng ho khan, họng khô hoặc ho ra máu do phế âm bị tổn thương. Phép trị là thanh táo nhuận phế.
    • Nếu táo ở phần giữa ( trung tiêu) xuất hiện là chứng dễ đói, mồm khô khát, hoặc nấc cụt, ợ khan là do âm vị tổn thương. Phép trị là sinh tân dưỡng vị.
    • Nếu táo ở hạ tiêu xuất hiện chứng tiêu khát, họng khô hoặc táo bón, các chứng thận âm hư. Phép chính chữa nội táo là tư dưỡng âm dịch. Các vị thuốc thường dùng là Huyền sâm, Sinh địa, Mạch môn, Bách hợp, Hồ ma nhân, Sa sâm, Ngọc trúc, Hoàng tinh.
    • Bài thuốc thường dùng có:
    - BÁCH HỢP CỐ KIM THANG
    - DƯỠNG ÂM THANH PHẾ THANG
    - MẠCH MÔN ĐÔNG THANG
    - TĂNG DỊCH THANG

    IV - CÁC BÀI THUỐC THANH THIỆT HÓA ĐÀM
    Do nhiệt tà thiêu đốt tân dịch làm tân dịch ngưng đọng lại thành đàm, trên lâm sàng thường thấy các chứng ho, đàm vàng, dính khó khạc, mặt đỏ, phiền nhiểu, rêu lưỡi vàng, mạch sác.
    Các bài thuốc thanh nhiệt hóa đàm gồm có :

    - THANH NHIỆT HÓA ĐÀM CAO
    - BỐI MẪU QUA LÂU THANG
    - TIỂU HÃM HUNG THANG

    V - CÁC BÀI THUỐC TRỪ PHONG HÓA ĐÀM
    Phong đàm sinh ra do ngoại cảm, phong tà làm phế khí không tuyên gây sơ lạnh, phát sốt, ho nhiều đàm. Do tỳ vị bị hư tổn, tỳ thấp sinh đàm, đàm trọc đi lên trên gây chứng nhức đầu, hoa mắt.
    Các bài thuốc gồm có :

    - BÀI THUỐC TRỪ NGOẠI PHONG HÓA ĐÀM
    - CHỈ THẤU TÁN
    - BÁN HẠ BẠCH TRUẬT THIÊN MA THANG
     
    Last edited by a moderator: 22/3/16
  2. tientranphuoc.27

    tientranphuoc.27 Member

    Tham gia ngày:
    23/8/16
    Bài viết:
    92
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nam
    hi, mình k bị bệnh này, nhưng dù sao đạo cũng hay
     
Đang tải...
Similar Threads
  1. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    2
    Đọc:
    137
  2. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    3
    Đọc:
    557
  3. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    0
    Đọc:
    306
  4. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    0
    Đọc:
    437
  5. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    0
    Đọc:
    391
  6. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    1
    Đọc:
    304
  7. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    1
    Đọc:
    308
  8. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    1
    Đọc:
    418
  9. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    1
    Đọc:
    321
  10. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    1
    Đọc:
    512

Chia sẻ nội dung này tới bạn bè trên MXH: