1. Trần Anh Tú

    Trần Anh Tú 0_o

    Tham gia ngày:
    20/12/15
    Bài viết:
    557
    Điểm thành tích:
    43
    Giới tính:
    Nam
    ĐẠI CƯƠNG VỀ BÀI THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN
    [​IMG]

    - Bài thuốc y học cổ truyền được tạo thành do sự phối hợp các vị thuốc dùng để chữa một bệnh, một hội chứng bệnh hay một triệu chứng của bệnh.
    - Các bài thuốc y học cổ truyền gồm: những bài thuốc có tác dụng chữa bệnh tốt qua thực tế sử dụng trên lâm sàng (nghiệm phương) và những bài thuốc kinh nghiệm đời xưa truyền lại (cổ phương). Bài thuốc gồm 1 vị (đơn phương); 2 vị trở lên (phức phương).
    - Các bài thuốc được tổ chức theo 1 nguyên tắc nhất định nhưng được biến hoá bằng cách: thêm bớt các vị thuốc, thay đổi sự phối ngũ, thay đổi liều lượng và thay đổi dạng bào chế, … để thích hợp với tình hình thực tế của bệnh tật và yêu cầu của việc chữa bệnh trên lâm sàng.
    - Các bài thuốc có nhiều dạng bào chế khác nhau, khi dùng thuốc sắc là dạng phổ biến và có tác dụng nhanh chóng nhất → cần nắm vững cách sắc thuốc, cách uống thuốc để đảm bảo kết quả chữa bệnh và an toàn khi dùng một số vị thuốc đặc biệt.

    1. Nguyên tắc xây dựng một số bài thuốc:
    - Bài thuốc có thể ít hay nhiều vị tuỳ theo tình hình thực tế của bệnh tật và yêu cầu việc chữa bệnh.
    - Một bài thuốc hoàn chỉnh được cấu tạo theo nguyên tắc: Quân - Thần - Tá - Sứ. Trong đó:
    • Quân: là vị thuốc chính còn gọi là chủ dược, dùng để chữa nguyên nhân gây ra bệnh, triệu chứng chính của hội chứng bệnh. vị thuốc chính có thể có nhiều vị thuốc, thông thường từ 1 đến 2 vị.
    • Thần: là vị thuốc hỗ trợ giúp cho vị thuốc chính tăng tắc dụng chữa bệnh.
    • Tá: là vị thuốc chữa triệu chứng phụ của hội chứng bệnh, hạn chế tác dụng mãnh liệt hay độc tính hoặc làm tăng tác dụng của vị thuốc chính.
    • Sứ: là vị thuốc đưa tác dụng của bài thuốc đến nơi có bệnh thuộc tạng phủ hay kinh lạc nào đó và có tác dụng điều hoà tính năng các vị thuốc trong bài thuốc.
    2. Sự biến hoá của bài thuốc
    - Biến hoá bài thuốc bằng cách tăng hay giảm các vị thuốc.
    - Biến hoá bài thuốc bằng cách thay đổi sự phối ngũ của các vị thuốc.
    - Biến hoá bài thuốc bằng cách thay đổi liều lượng của các vị thuốc trong bài thuốc.
    - Biến hoá bài thuốc bằng cách thay đổi dạng thuốc.

    3 . Các dạng của bài thuốc

    Tuỳ theo yêu cầu chữa bệnh trên lâm sàng, tính chất các vị thuốc và sự cấu tạo của bài thuốc, các bài thuốc có nhiều dạng bào chế khác nhau như:

    - Thuốc sắc (thuốc thang): là 1 vị thuốc hay nhiều vị thuốc cấu tạo thành bài thuốc cho vào nước sắc, bỏ bã, lấy nước uống.
    Thuốc sắc là một dạng thuốc hay dùng, thích ứng với các loại bệnh tật nhất là bệnh cấp tính, được dùng để uống trong hay dùng ngoài. thuốc sắc hấp thụ nhanh, dễ phát huy tác dụng, dễ gia giảm phù hợp với bệnh cảnh lâm sàng. nhưng dùng thuốc sắc mất thời gian nhất là đối với các bệnh cần dùng thuốc dài ngày.
    - Thuốc tán: là các vị thuốc của bài thuốc sao giòn, tán bột dùng uống trong hay dùng ngoài.
    Khi dùng uống trong thì hoà với nước sôi để nguội hoặc đem sắc với nước rồi uống bỏ cặn. Sử dụng đơn giản, dễ mang theo, tiết kiệm được thuốc, ít biến chất nhưng hấp thụ kém hơn thuốc sắc.
    - Thuốc hoàn: các vị thuốc trong bài thuốc tán nhỏ, dùng mật, nước (nước thuốc, rượu, giấm, hồ gạo, …) bào chế thành hoàn (viên tròn).
    Thuốc hoàn hấp thu chậm, tác dụng chậm nhưng thể tích nhỏ, dễ đem theo, dễ sử dụng bảo quản, phù hợp với các bệnh mãn tính cần dùng thuốc bổ và thuốc duy trì kết quả chữa bệnh.
    Ngoài ra có 1 số bài thuốc cấp cứu (VD: an cung ngưu hoàng hoàn). Các bài thuốc có các vị độc mạnh cần dùng liều lượng ít, các bài thuốc có các vị thuốc dễ bị lửa, sức nóng phân tích mất tác dụng hoặc gây độc như chu sa thì cũng dùng ở dạng thuốc hoàn.
    Có các loại thuốc hoàn như: hoàn mật; hoàn nước; hoàn hồ; hoàn đậm đặc...
    - Rượu thuốc: dùng rượu làm dung môi chiết xuất hoạt chất các vị thuốc. Dùng uống trong hay dùng ngoài.
    - Viên dẹt: các vị thuốc, bài thuốc được nấu thành cao, làm thành cốm rồi dập viên theo phương pháp công nghiệp. Lượng chuẩn xác, thể tích nhỏ, dễ uống: nếu uống đắng, khó uống có thể bọc đường; thuốc kích thích niêm mạc dạ dày, khó uống có thể dùng viên bọc kẹo.
    - Thuốc cao: gồm 2 loại: loại uống trong (cao lỏng). loại dùng ngoài (cao mềm, cao cứng, cao dán).
     
    Chỉnh sửa cuối: 5/3/16
    Bs Cường and Hello like this.
  2. LUONGYVIET

    LUONGYVIET Tư vấn miễn phí riêng: TDHMEDIC@GMAIL.COM

    Tham gia ngày:
    12/6/16
    Bài viết:
    115
    Điểm thành tích:
    28
    Giới tính:
    Nam

    Quân 君 - Thần 臣 - Tá 佐 - Sứ 使của một Bài Thuốc Đông - Nam Dược.

    Trình bày: LUONGYVIET

    Khái niệm :
    Lấy cơ cấu hành chính của thời Quân chủ.
    Người học Thuốc được dạy: - Kê đơn Thuốc chẳng những phải hiểu ngọn ngành về - Tính - Vị - Quy kinh. Công năng, tác dụng.
    Còn biết bài Thuốc Chủ trị vào đâu trong Ngũ Tạng.
    Chẳng những thế, còn phải biết phối hợp ra sao để: tiết kiệm được Dược Tài - Dược Liệu.

    Vị nào là Quân Dược (chủ của bài Thuốc), vị nào là Thần (trợ thủ đắc lực), vì nào là Tá (phụ giúp cho thêm tác dụng) và vì nào là Sứ (dẫn cho Thuốc đi đến được Tạng Phủ đang cần điều trị)
    Còn phải biết các Dược tài nào: - Xung phục - Khắc chế - Tương kị - Tương ố - Kị hỏa - Hậu gia.
    Vị nào là độc A - Độc B -
    Vị nào phải sao - chế > với Giấm, với Hoàng Thổ, với Đồng tiện, với Rượu, với Cám, với Mật Ong ...
    Vị nào phải tránh lửa, phải Thủy phi ...

    Xin trình bày tiếp theo trọng tâm chủ đề đã đưa ra.

    Phân tích mẫu: Một bài Thuốc Nam, trong kinh nghiệm điều trị U Xơ lành tính Tử Cung mà tôi tâm đắc trong điều trị nhiều năm.

    Lưu ý: Liều lượng không ghi ra đây, do còn tùy thuộc: Thể bệnh, người bệnh, tuổi tác, bệnh mới phát hiện hay bệnh đã lâu, bệnh đã phẫu thuật hay chưa đụng kềm,dao,kéo v...v... Hoặc còn tùy vào bệnh nhân đang Hàn hay Nhiệt, táo bón hay tiện loãng.

    1/ Bạch Hoa Xà Thiệt Thảo (BHXTT)
    2/ Bán Chi Liên (BCL)
    3/ Trinh Nữ Hoàng Cung (TNHC)
    4/ Thổ Phục Linh (TPL)
    5/ Rễ Nhàu (RN)
    6/ Huyết Rồng (HR)
    7/ Hương Phụ (HP)
    8/ Ích Mẫu Thảo (IMT)
    9/ Cỏ Mực (CM)
    10 a/ Kinh Giới Tuệ
    10 b/ Cỏ Xước

    * = 10a/ - trường hợp U Xơ ở bên trên - ví dụ U Xơ Tuyến Mỡ Nhũ Hoa - làm căng, cứng đau vùng Nhũ trước, trong và sau hành kinh.

    * = 10b/ - trường hợp U Xơ lành tính Tử Cung

    HAI VỊ 10a & 10b = là SỨ (Thuốc dẫn đường của Công Thức điều trị bằng Dược Thảo trên)

    BHXTT: Có trọng lượng nhiều nhất (Quân Dược - Chủ Dược).
    Có trường hợp dùng đến 300 gam.

    BCL: lượng bằng 1/2 trọng lượng của Quân Dược (và là THẦN - hỗ trợ, giúp cho Quân Dược tăng phần hiệu quả trong điều trị)

    TNHC: TÁ Dược - Bổ xung, hỗ trợ thêm cho QUÂN - THẦN trong điều trị. Lượng tối đa 12 gam. Hơi có Độc.

    RN: TÁ Dược - Hỗ trợ thêm, có tính Thông Huyết, Tán Ứ. Lượng có thể từ 12 - 36 gam.

    HR: TÁ Dược - Sinh Huyết, bổ Huyết, thanh nhiệt, giải độc.

    HP: TÁ Dược - Ấm Tỳ - Hành Huyết - Thông Huyết. Lượng 4 - 6 gam.

    IMT: TÁ Dược - Làm co thắt tử cung - Thông Kinh - Sinh Nội Tiết Tố -

    CM: TÁ Dược - Chỉ Huyết (làm ngưng chảy máu) - Sát khuẩn - Sinh cơ - Sinh Âm.

    Trong bài Thuốc NAM nầy: Có QUÂN (1 vị Thuốc) - THẦN (2 vị) - TÁ (6 vị) - SỨ (1 vị).
    Tổng cộng là 10 vị Thuốc.

    Trong tinh thần: NAM DƯỢC TRỊ NAM NHÂN - "Thuốc Nam - Trị bệnh Người Việt Nam"
    Xin cùng chia sẻ với Cộng Đồng, để: Tự hào về Tiên Tổ và hãnh diện về Nền Y Học của Nước Nhà ta.

    Mong nhận được hồi âm và những góp ý chân tình của Cộng Đồng.

    LUONGYVIET

    Bài thuốc trên; là kinh nghiệm lâm sàng tâm đắc của bản thân; trong nhiều năm điều trị (dỉ nhiên là có GIA - GIẢM) tùy theo thể trạng.

    Ung Bướu phần bên trên (Nhũ, Phế, Hầu, Hàm) hay phần giữa (Tỳ, Vị, Đại Tràng...) hay phần bên dưới (Tuyến Tiền Liệt, Buồng Trứng, Tử Cung...).
    Đã có kết quả nhất định. Không nhiều tiền, thuốc dễ tìm.
    Có thay đổi tùy theo Mùa. Ví dụ Trinh Nữ thay bằng Dừa Cạn...
    Có đau nhức - Gia: Tế Tân - Lạc Tiên - Vong Nem - Toan Táo Nhân (chế)
    Giúp khối U từ từ nhỏ lại bằng: Côn Bố - Hải Tảo - Trinh Nữ Hoàng Cung (lá)... Nga Truật

    Vài hàng chia sẻ.
    Trân trọng mong đón: góp ý của Quý Thầy có nhiều kinh nghiệm.
    Cảm tạ.
     

Chia sẻ nội dung này tới bạn bè trên MXH: