1. LUONGYVIET

    LUONGYVIET Tư vấn miễn phí riêng: TDHMEDIC@GMAIL.COM

    Tham gia ngày:
    12/6/16
    Bài viết:
    115
    Điểm thành tích:
    28
    Giới tính:
    Nam
    Thủy xương bồ

    Thủy xương bồ, Xương bồ, Bạch bồ - Acorus calamus L., thuộc họ Ráy - Araceae.

    Mô tả: Cây khoẻ sống dai, mọc ở chỗ ẩm ướt, đất lầy, nhờ một thân rễ phân nhánh nhiều, dày cỡ 3cm, mang nhiều rễ con. Lá hình gươm có một gân chính, dài 50-150cm và rộng 1-3cm. Cụm hoa hình trụ dài 4-5cm nằm đầu một cán hoa, trên đó có nhiều hoa nhỏ màu lục nhạt xếp theo đường xoắn ốc. Quả mọng màu đỏ.

    Hoa tháng 6-7, quả tháng 8.

    [​IMG]
    Bộ phận dùng: Thân rễ - Rhizoma Acori Calami, thường gọi là Thủy xương bồ. Lá và thân cũng được dùng.

    Nơi sống và thu hái: Loài của vùng Trung Á, có phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia. Ở nước ta, cây mọc từ Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Trị, tới Lâm Đồng.

    Thứ phổ biến hiện nay là var. verus L. thường gặp ở bờ rạch, bờ ao, nơi có nước, các mương lầy, các bãi bồi của cồn. Cũng có khi được trồng. Để dùng làm thuốc, đào thân rễ già, rửa sạch đất cát, cho lên giàn và đốt lửa ở dưới để đốt các bẹ, rễ con và giảm bớt Thủy phân. Sau đó, dùng dao cắt thành từng đoạn dài 8-15 cm và cắt bỏ những rễ con sót lại, đem phơi nắng hoặc sấy đến khô.

    Thành phần hóa học: Thân rễ khô chứa 1,5-3,5% tinh dầu thơm có vị cay dễ bay hơi, chất đắng acorin (khi tiếp xúc với không khí bị ô xy hoá chậm thành một chất nhựa trung tính gọi là acoretin), một ít tanin, chất nhầy, acid béo, cholin. Trong tinh dầu có các acid acetic, palmitic và eugenol, aldehyd asarylic, (-pinen, camphen, long não (calameene), một sesquiterpen 2 vòng (calamen), alcol là calamneol, asaron và parasaron, đồng phân của asaron là calamol và isocalamol; còn có thiamin. Người ta còn tìm thấy các chất calamendiol, acorenone, shyobunone, acorone, acoragernacrone, acolamone, isoacolamone.

    Tính vị, tác dụng: Thủy xương bồ có vị cay, tính ấm, có mùi thơm; có tác dụng khư phong thông khiếu, kiện tỳ, hoá khí trừ đàm, sát trùng giải độc. Acorin kích thích mạnh các tuyến nước bọt, tuyến dạ dày và ruột, tạo thành một loại thuốc làm mạnh tiêu hoá, làm tăng cường các sự trao đổi chất hữu cơ. Nó có tác dụng làm dịu đối với hệ thần kinh trung ương và làm thuốc điều hoà nhịp tim. Asaron cũng có tính kháng khuẩn và sát trùng.

    Công dụng, chỉ định và phối hợp: từ lâu, cây được sử dụng làm thuốc kích thích tiêu hoá và lợi tiểu, dùng chế các loại nước uống và dùng trong hương liệu. Thường dùng trị cảm cúm, viêm phổi nhẹ, viêm khí quản, viêm thận, khó tiêu, kinh giản điên cuồng và phong hàn tê thấp. Còn dùng trị giun cho trẻ em và trẻ hay ói oẹ.

    Ngày dùng 3-8g, dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường phối hợp với các vị thuốc khác. Dùng ngoài, nấu nước rửa mụn nhọt, để tiêu nọc độc và tán bột rắc trừ sâu bọ, chấy rận, rệp và mối.

    Có thể dùng chế rượu uống: 100g rễ khô trong 1/2 - 1 lít rượu, ngâm trong 1 tuần, ngày dùng 2-3 ly. Hoặc dùng hãm uống; 40g trong 1 lít nước sôi, ngày uống 2-3 ly. Giúp tiêu thực, thính tai, sáng mắt, răng chắc... (Đỗ Tất Lợi)

    Ở Vân Nam (Trung Quốc), Thủy xương bồ dùng trị trúng phong hôn mê, đau nhức khớp xương do phong thấp, đau răng, tiêu hoá không bình thường, đau bụng, ỉa chảy, Thủy thũng, lỵ, ghẻ nấm.

    ---------------------------------------------------------------------
    Bài 2

    Còn gọi là thạch xương bồ, thuỷ xương bồ.
    Tên khoa học Acorus gramineus Soland: Acorus calamus L.
    Thuộc họ Ráy Araceae.
    Thạch xương hồ (Rhizoma Acori graminei) là thân rễ phơi khô của cây thạch xương bổ Acorus gramineus Soland.
    Thưỷ xương bồ (Rhizoma Acori calami) là thân rẽ phod khô của cây thuỷ xương bồ Acorus calamus L.
    Xương là phồn thịnh, bồ là một thứ cỏ; xương bồ là một thứ cỏ bồ mọc chi chít.
    A. Mô tả cây
    Thạch xương bồ là một loại cỏ sống lâu năm, có thân rê mọc ngang, đường kính to bằng ngón tay, có nhiều đốt, trên có những sẹo lá. Lá mọc đứng hình dải, dài 30-50cm, rộng 2-ómm, chỉ có gân giũa Hoa mọc thành bông mo ở đầu một cán dẹt đài 10-30cm, cán này được phủ bởi một lá bắc, lá bấc này đài 7- 20cm, rộng từ 2-4mm vượt cao hơn cụm hoa rất nhiều, làm cho cụm hoa trông như lệch sang một bên, dài từ 5-12cm, đường kính 2-4mm. Quà mọng màu đỏ nhạt, một ngăn, có thành gần như khô. 
    Quanh hạt có một chất gôm nhầy ( Hình 290 ).
    Thuỷ xương bổ Acorus calamus cũng giông như thạch xương bổ nhưng to và cao hơn. Lá dài từ 50-150cm, rộng từ 6-30mm. Lá bắc của cán hoa so với loài trước cũng dài hơn, thường dài tới 45cm. Cụm hoa mọc tHành bống mẫm, so với cụm hoa trên cũng to và ngắn hơn, thường dài 4-8cm, đường kính 6-12mm. Mùa hoa tháng 5-7, mùa quả tháng 6-8 ( Hình 291 ).
    B. Phân bố, thu hái và chế biến
    Thạch xương bồ và thuỷ xương bổ mọc hoang tại những vùng núi miển Bắc và Trung nước ta, thường ờ những nơi khe đá, khe suối, chỗ mát.
    Có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhàt vào mùa thu ở các tháng 8-9. Hái về cắt bỏ lá và rễ con, rửa sạch đắt cát và phơi khô.
    c. Thành phần hoá học
    Trong thạch xương bồ có chùng 0,5-0,8% tinh dầu, trong tinh dầu có chừng 86% asaron
    C, ,H|6Or Ngoài ra còn có một chất phenol và axit béo.
    Tinh dầu có tỷ trọng 1,05 8 ở 15°, chỉ số xà phòng 1,3 chỉ số este 5,79 độ sôi 140- 160“ ở 6mm thuỷ ngàn.
    Trong thuỷ xương bồ có 1,5-3,5% tinh dầu, trong đó thành phần chủ yếu cũng là asaron CI2HISO, (4 propenyl 1-3-5 trimetoxybenzol), rồi đến asarylandehyt C10H12O4- Ngoài ra còn một glucozit đắng gọi là acorin và chất tanin.
    CH = CH - CH3
    OCH3
    Asaron
    D. Tác dụng dược lý
    Uống vào, xương bồ xúc tiến sự phân tiết các dịch tiêu hoá và hạn chế sự lên men không bình thường của dạ dày và ruột
    Xương bồ còn làm bớt sự căng thẳng của cơ trơn trong ruột. Ngoài ra nó hơi có tác dụng kích thích đối với da, do đó có thế tãng cường máu chạy mạnh hơn tại một nơi nào trên cơ thể.

    Theo sự ngiên cứu của Trịnh Vũ Phi (198 Trung hoa y học tạp chí 38 (4): 315-318) troi ống nghiệm thì xương bồ có tác dụng sát khuẩn. đối với một sô khuẩn ngoài da.

    Năm 1966, Nguyễn Ngọc Doãn, Nguyễn Địc Bùi Thế Kỳ và Vũ Anh Vinh (Tạp chí y học V, Nam, I: 8-14) đã nghiên cứu tác dụng của
    Asarylandehyt bồ trên thực nghiệm và trên lâm sàng đã đi tới l luận:

    1. Xương bồ có tác dụng dự phòng và điều loạn nhịp tim gây ra trên động vật (thỏ và ch bằng clorua bary, Strophantin, hoặc thắt động mạ vành trái. Các súc vật đều được theo dõi bằng đi tâm đồ, huyết áp và nhịp thở. Khi xuơng bồ định nhịp tim thì huyết áp và nhịp thở động ^ không bị rối loạn, sóng R cúa điện tâm dồ đều cao lên.

    2. Trong lâm sàng, xương bồ có tác dụng điểu hoà nhịp tim trong các trường hợp: nhịp xoang nhanh, nhịp đa hiệp xoang nút, ngoại tám thu thành chuỗi. Nhưng có trường hợp không có kết quà đối với trung tâm nhĩ hoặc ngoại tâm thu, nhịp hai nhịp ba đã có khá lâu.

    3. Xương bồ có thể dùng kéo dài hàng tháng mà không gây độc, đáp ứng rất tốt trong điểu trị ở bệnh viện cũng như ngoại trú. Liều lượng hàng ngày 10-15ml cao rượu thân, rễ khô (lml cao rượu: lg xương bồ).

    E. Công dụng và liều dùng

    Xương bồ là một vị thuốc được dùng cả trong tây y và đồng y.

    Tính vị xương bồ theo đông y: Vị cay, tính ồn, vào hai kinh tủm và can. Tác dụng tẩv uế, khai được cữu khiếu, tuyên khí, trục đờm, dùng chữa thần kinh suy nhưạ;, kém tiêu hoá, thông cửu khiếu, sáng tai mắt, ổn tràng vị, trị phong hàn tê thấp. Trẻ con sốt nóng nấu nuớc tắm khỏi. Phàm âm huyết khổng đả, tinh hoạt, ra nhiều mồ hôi cấm dùng. Kỵ sắt, ghét ma hoàng, địa đởm, thịt dê, đường và mật.

    Tiên thực tế xương bồ được dùng làm thuốc bổ (bổ dạ dày, giúp sự tiêu hóa. Mới đây được dùng làm thuốc điểu hòa nhịp tìm trong nhịp xoang nhanh, ngoại tâm thu thành chuỗi, nhịp do huyệt xoang nút.
    Ngày dùng 4 đêh 1Og dùng hàng ngày, kéo dài 1-2 tháng.

    Dùng ngoài làm thuốc trừ sâu bọ, chống chấy rận. Tại Malaixia người ta tán thân rễ xương bồ rắc vào gốc cây có mối. Còn dùng làm bột thuổc đánh răng.
    Đơn thuốc có xương bồ
    Viên roter (nemracid) (chữa đau dạ dày): Mối viên có xương bồ 0,025

    ST


     
    Last edited by a moderator: 28/6/16
    Neuro and Bs Cường like this.
Đang tải...
Similar Threads
  1. Trần Anh Tú
    Trả lời:
    1
    Đọc:
    581

Chia sẻ nội dung này tới bạn bè trên MXH: